Thứ hai, ngày 09-08-2010
Công cụ làm việc cá nhân


THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HOÀ U-DƠ-BÊ-KI-XTAN VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

I/ Khái quát chung
- Tên nước: Cộng hoà U-dơ-bê-ki-xtan (Republic of  Uzbekistan)
- Thủ đô: Ta-sơ-ken (khoảng 2,2 triệu người)
- Quốc khánh: 01/9
- Vị trí địa lý: trung tâm Trung Á
- Diện tích: 447.400 km2.
Đường biên giới dài 6.221 km. (với Áp-ga-ni-xtan  137km; với Ca-dắc-xtan 2.203km; với Cư-rơ-gư-dơ-xtan 1.099km; với Tát-gi-ki-xtan: 1.161km; với Tuốc-mê-ni-xtan 1.621 km).
U-dơ-bê-ki-xtan không có biển. Phần phía Bắc U-dơ-bê-ki-xtan là khu vực biển A-ran (biển chết).
- Khí hậu: sa mạc, mùa hè nóng, mùa đông lạnh.
- Tài nguyên thiên nhiên: khí đốt tự nhiên, dầu mỏ, than đá, vàng, uranium, bạc, đồng, chì, kẽm, vonfram và mô-lip đen.
- Dân số:  27,4 triệu người (số liệu thống kê đến 1/10/2008), trong đó: người U-dơ-bếch chiếm: 80%, người Nga: 5,5%, người Tát-gích: 5%, người Ca-dắc: 3%, người Ca-ra-can-pắc: 2,5%, Tác-ta: 1,5%, người có quốc tịch khác chiếm: 2,5% (số liệu thống kê năm 1996).
- Tôn giáo: Hồi giáo chiếm 88% (chủ yếu là dòng Sun-ni); Do thái chiếm: 9%, tôn giáo khác chiếm: 3%.
- Ngôn ngữ chính thức: tiếng U-dơ-bếch: 74,3%; Nga: 14,2%, Tát-gích: 4,4%, ngôn ngữ khác: 7,1%.
- Đơn vị tiền tệ: đồng Xum.  Tỷ giá 1USD= 1412 xum (tỷ giá ngày 06/2/2009). 
- Cơ cấu hành chính: 12 tỉnh, 01 cộng hoà tự trị và 01 thành phố.

- Thể chế chính trị:
Chế độ Cộng hoà Tổng thống do dân bầu trực tiếp bằng phổ thông đầu phiếu.
Tại cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/1995, nhiệm kỳ của Tổng thống  được kéo dài đến năm 2000. Năm 2002 U-dơ-bê-ki-xtan tiến hành trưng cầu dân ý thay đổi Hiến pháp qui định nhiệm kỳ của Tổng thống là 07 năm tính từ năm 2000 (trước đây nhiệm kỳ 05 năm). Tổng thống không được bầu quá 02 nhiệm kỳ liên tiếp. Tuy nhiên sau đó U-dơ-bê-ki-xtan đã sửa đổi Hiến pháp và tháng 12/2007 ông Ca-ri-mốp lại tranh cử chức tổng thống và thắng cử với 82% phiếu bầu.

Năm 2002 Hiến pháp sửa đổi cho phép thành lập hai viện (Hạ viện-105 ghế và Thượng viện-100 ghế). Hạ viện mới được bầu ngày 09/1/2005.

Thượng viện gồm 100 ghế, trong đó 16 ghế do Tổng thống bổ nhiệm, 84 ghế được bầu từ các tỉnh thành, trong đó mỗi đơn vị bầu cử được bầu 6 Thượng nghị sỹ. Thượng viện mới được bầu năm 2005.

Thủ tướng và Phó Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm.

Thành viên Hội đồng Bộ trưởng do Tổng thống đề cử và Quốc hội thông qua. Tổng thống làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Cơ quan hành pháp: Toà án tối cao, các Thẩm phán do Tổng thống  đề nghị, Quốc hội thông qua.

- Lãnh đạo hiện nay:
+ Tổng thống: Ix-lam Ca-ri-mốp, được bầu vào các năm 1991, 1995, 2000, 2007
+ Thủ tướng: Sáp-cát  Mi-rơ-di-ai-ép  (từ 28/01/2005).
+ Chủ tịch Hạ viện: Đi-lô-rôm Ta-sơ-mu-ha-mê-đô-va (từ 23/01/2008).
+ Bộ trưởng Ngoại giao: Vla-đi-mi Nô-rốp (bổ nhiệm ngày 12/7/2006).

III/ Một số  nét về lịch sử:
Đế quốc Ba Tư cai trị U-dơ-bê-ki-xtan từ thế kỷ VI trước công nguyên. Đến thế kỷ VIII sau công nguyên, người Ả-Rập tiếp quản. Trong thế kỷ XIII, người Mông Cổ chiếm U-dơ-bê-ki-xtan trước khi U-dơ-bê-ki-xtan trở thành trung tâm của đế chế Ti-mua và con cháu của ông ta. Hai tiểu Vương quốc của người U-dơ-bê-ki-xtan là Bu-kha-ra và Khi-va được thành lập  trong thế kỷ XV và XVI. Một phần của U-dơ-bê-ki-xtan nằm dưới ách cai trị của Đế chế Ba Tư trong suốt  thế kỷ XVIII. Nước Nga Sa Hoàng  có ý định xâm chiếm U-dơ-bê-ki-xtan từ năm 1717, nhưng đến khi các Hãn của Bu-kha-ra và Khi-va trở thành các nước chư hầu của Đế quốc Nga (1868-1873) vùng này mới chịu sự cai trị của các Sa hoàng.  Sau cuộc cách mạng tháng 10 Nga, các Hãn Bu-kha-ra và Khi-va đã tiến hành cuộc bạo động Ba-ma-chi (1918-1922) chống lại chính quyền Xô-Viết, nhưng không thành công. Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa U-dơ-bê-ki-xtan được thành lập vào năm 1924. U-dơ-bê-ki-xtan tuyên bố độc lập (31/8/1991) và được quốc tế công nhận sau khi Liên Xô tan rã.

IV/ Tình hình chính trị, kinh tế-xã hội
1/ Chính trị nội bộ.

Hiến pháp của Cộng hoà U-dơ-bê-ki-xtan được thông qua ngày 08/12/1992 (sau khi độc lập) và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1997 và 2000.

Tình hình U-dơ-bê-ki-xtan sau khi độc lập nói chung ổn định. Tuy nhiên, vào cuối những năm 90 của thế kỷ 20 và thời gian gần đây, các phần tử Hồi giáo ly khai và cực đoan hoạt động mạnh tại thung lũng Phe-ga-na, chính quyền phải tìm cách đối phó.

2/ Kinh tế-xã hội.
Trong các năm từ 1991-1993 sau độc lập, Chính phủ U-dơ-bê-ki-xtan tiếp tục duy trì nền kinh tế  bao cấp và kiểm soát chặt chẽ giá cả và sản xuất. Từ  năm 1994, U-dơ-bê-ki-xtan hạn chế bớt sự kiểm soát của chính phủ đối với nền kinh tế, nhưng chưa có nhiều biện pháp cải cách nền kinh tế. Đời sống của nhân dân còn nghèo, tỷ lệ thất nghiệp cao (trên 20%), nhất là các vùng nông thôn. Từ năm 2006, GDP tăng khoảng 7%/năm. Năm 2008, GDP tăng trưởng khoảng 9%, đạt 26,6 tỷ USD và đầu tư nước ngoài đạt 240 triệu USD, tăng 40% so với năm 2007. Từ cuối năm 2008, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, lạm phát tăng nhẹ ở mức 7,8%.

3/ Đối ngoại.
+ Với SNG và Nga: Ngày 16/06/2004 hai nước đã ký Hiệp ước về quan hệ đối tác chiến lược. Gần đây, TT Nga Mét-ve-đép đã thăm U-dơ-bê-ki-xtan (22-23/1/2009) để củng cố quan hệ giữa hai nước. Ngày 12/11/2008, U-dơ-bê-ki-xtan đã ngừng tư cách thành viên của nước này tại Cộng đồng kinh tế Á-âu (EAEC) vì cho rằng cơ chế làm việc của EAEC không hiệu quả. U-dơ-bê-ki-xtan vẫn duy trì hoạt động trong khuôn khổ Hiệp ước an ninh tập thể (ODKB). Các nước trong khu vực Trung Á, trong đó có U-dơ-bê-ki-xtan, đang bàn thảo về việc thành lập Liên minh Trung Á. 

- Thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, SNG (CIS), OSCE, SCO.

U-dơ-bê-ki-xtan gia nhập Diễn đàn đối thoại hợp tác châu Á (ACD), tháng 6/2006, là thành viên chính thức tổ chức Diễn đàn củng cố hợp tác và lòng tin ở Châu Á (CICA)

IV/ Quan hệ Việt Nam-U-dơ-bê-ki-xtan
1/ Quan hệ chính trị

Năm 1991 Việt Nam công nhận độc lập của U-dơ-bê-ki-xtan. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 17/01/1992.  Từ 27-29/3/1996, Tổng thống Ix-lam Ca-ri-mốp thăm Việt Nam. Tháng 3/1997 Thị trưởng Ta-sơ-ken  Tu-li-a-nốp  thăm Việt Nam. 

Quan hệ chính  trị giữa Việt Nam và U-dơ-bê-ki-xtan là tốt đẹp.

Tháng 2/1994 Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm U-dơ-bê-ki-xtan. Dịp này,  hai bên đã ký các Hiệp định về hợp tác kinh tế - thương mại (ngày 02/2/1994), Nghị định  thư hợp tác hai Bộ Ngoại giao (ngày 02/02//1994). Hai nước đã ký Hiệp định vận tải Hàng không  (7/1995).

Năm 1996, Tổng thống Bạn thăm Ta.

Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Dân chủ nhân dân (Đảng cộng sản cũ) cũng đã được thiết lập. Quan hệ giữa Hội hữu nghị hai nước cũng đã được khôi phục lại vào năm 2004. Hàng năm, Hội hữu nghị hai nước tiến hành trao đổi đoàn.

Tháng 6/2005, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao  Đào Việt Trung thăm U-dơ-bê-ki-xtan nhằm thúc đẩy quan hệ song phương. Tháng 5/2007, Thứ trưởng Ngoại giao Cộng hoà U-dơ-bê-ki-xtan, lần đầu tiên, đã sang thăm Việt Nam và tiến hành tham khảo chính trị cấp Bộ Ngoại giao.

Từ 30/6 đến 3/7/2008, Phó chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Uông Chu Lưu thăm U-dơ-bê-ki-xtan.

2/ Quan hệ kinh tế-thương mại

Uỷ ban Liên chính phủ Việt Nam-U-dơ-bê-ki-xtan về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật được thành lập năm 1996. Khoá họp lần thứ nhất được tổ chức tại Ta-sơ-ken vào tháng 8/2000. Khóa họp lần thứ hai được tiến hành tại Hà Nội từ 18-20/8/2008. 

U-dơ-bê-ki-xtan có nhu cầu nhập khẩu nông sản nhiệt đới (chè, cà phê, cao su), thực phẩm, hàng thủ công, may mặc, điện tử. U-dơ-bê-ki-xtan có khả năng cung cấp cho Việt Nam bông, kim loại màu, phân bón, phụ tùng máy móc.
 
Trao đổi thương mại giữa Việt Nam và U-dơ-bê-ki-xtan đạt 4,8 triệu USD/năm 2006, 6,6 triệu USD/năm 2007, 8,3 triệu USD năm 2008 trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 2,5 triệu USD và nhập khẩu từ Uzbekistan hơn 5,8 triệu USD.

Năm 2003, một số đoàn doanh nghiệp của Việt Nam đã sang tham khảo thị trường, tìm kiếm cơ hội hợp tác. Tháng 4/2008 Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Danh Vĩnh thăm U-dơ-bê-ki-xtan, tháng 7/2008 Thứ trưởng Bộ kinh tế đối ngoại, đầu tư và Thương mại Uzbekistan N. Nagdimov thăm Việt Nam để thúc đẩy hợp tác. Tuy nhiên, các dự án cụ thể đến nay vẫn chưa triển khai được.

Ta và bạn đã ký một số Hiệp định song phương (dịp Tổng thống Ca-ri-mốp thăm Việt Nam):
+ Hiệp ước về những cơ sở quan hệ và hợp tác hai nước (ký 28/3/1996)
+ Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (ký 28/3/1996)
+ Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (ký 28/3/1996),
+ Hiệp định hợp tác khoa học- kỹ thuật, (ký 28/3/1996)
+ Hiệp định hợp tác về du lịch (ký 28/3/1996).
+ Hiệp định về thành lập Uỷ ban Liên Chính phủ Việt Nam-U-dơ-bê-ki-xtan  về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật (ký 28/3/1996).
+ Biên bản về hợp tác về khai thác dầu khí giữa Tập đoàn dầu khí Việt Nam và Tập đoàn dầu khí U-dơ-bê-ki-xtan (2008).

3/ Hợp tác giáo dục-đào tạo và các lĩnh vực khác
- Dưới thời Liên Xô đã có khoảng 3.000 sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam học tập tại U-dơ-bê-ki-xtan. Năm  2004 chương trình trao đổi đào tạo sinh viên giữa hai nước được nối lại. Hiện có 2 sinh viên U-dơ-bê-ki-xtan học tiếng Việt ở Hà Nội.

- Đã có một nhóm các chuyên gia U-dơ-bê-ki-xtan tham gia thiết kế nhà máy thuỷ  điện Sê-San 3; tại Hà Nội có 1 quán ăn của người U-dơ-bếch.

- Nhìn chung, cộng đồng người Việt tại U-dơ-bê-ki-xtan (còn khoảng gần 100 người) làm ăn chân chính, gắn bó với quê hương đất nước.

- Đại sứ quán Việt Nam tại U-dơ-bê-ki-xtan được thành lập năm 1993, kiêm nhiệm Cộng hoà Cư-rư-gư-dơ-xtan và Cộng hoà Tát-gi-ki-xtan.

- Đại sứ quán U-dơ-bê-ki-xtan tại In-đô-nê-xi-a kiêm nhiệm Việt Nam.Lãnh sự danh dự của U-dơ-bê-ki-xtan tại Việt Nam là ông Lê Văn Nghĩa.
                

                                                                   Cập nhật, ngày 09  tháng  02  năm 2009